Press "Enter" to skip to content

Danh mục: Ngữ pháp chân kinh N3

Ngữ Pháp Chân Kinh N3/ Du nhập なら vào Tết của ta

なら trong tiếng Việt được chuyển dịch thành “Nếu A thì B”.
と・ば・たら các bạn ấy cũng được chuyển dịch thành “Nếu A thì B”.
nhưng mục đích ra chiêu của なら là khác nhất so với các đồng bọn còn lại.
Trong khi đồng bọn (と・ば・たら) ra chiêu “Nếu A Thì B” nhằm mục đích bắn ra ý nhân- quả (điều kiện- kết quả).
Thì chiêu なら, ra chiêu “Nếu…thì” với mục đích bắn ra “lời đề nghị” và “sự tin tưởng”.

Nếu chú cưới thì (anh khuyên) năm nay đi !
Mục đích đưa ra lời khuyên này là địa bàn của なら。

Leave a Comment

Ngữ Pháp Chân Kinh N3/ “Niềm tin cuồn cuộn” với はず và 3 cách xuất chiêu

はず là 1 chiêu dùng để biểu đạt “niềm tin cuồn cuộn” ngự trị trong lòng mình. Từ tiếng Việt tương đương là “Tôi đoan chắc rằng ~”.
Ta đoan chắc vào chuyện gì thì chỉ việc đem cái chuyện đó đặt trước はず.
(1) Nếu ta đoan chắc vào 1 chuyện sẽ xảy ra trong tương lai,
Ta dùng thì hiện tại đơn liên thủ với はず.
(2) Còn nếu ta đoan chắc vào 1 chuyện đã xảy ra, ta dùng thì quá khứ liên thủ với はず.

2 Comments

Ngữ Pháp Chân Kinh N3/ Câu chuyện của くらい/ぐらい – Tập 1

Sau tất cả…くらい có mấy nghĩa?’
Nếu phải nói một lời , thì sau tất cả くらい có 4 nghĩa
(1) Là biểu thị nghĩa “Cỡ ~”, đi với 1 con số cụ thể (hay lượng từ) , nêu lên ý “Xấp xỉ”.
(2) Là biểu thị nghĩa “Ở mức ~”, đưa ra “cái mức” nhằm tượng hình hóa cho 1 tính chất.

2 Comments

Ngữ Pháp Chân Kinh N3/ Câu chuyện của こそ

Điểm ngữ pháp こそ, tiếng Việt ta có thể dịch là “Chính là”, dùng để nhấn mạnh bộ phận đi đằng trước nó (có thể là danh từ, có thể là động từ).
(1) Nếu muốn nhấn vào một sự vật, ta bôi đậm sự vật đó bằng cách đặt こそ đằng sau nó:
Chẳng hạn,
(Thế gian có bao nhiêu thứ, tiền tài, quyền lực, địa vị nhưng) Chính tình yêu mới là tất cả.
= 愛こそがすべてだ。
こそ làm nổi bần bật “ai” = tình yêu trong hằng hà sa số các thứ trên thế gian.

Leave a Comment

Ngữ Pháp Chân Kinh N3/ Phân biệt Misa (み・さ)

Một cách tổng quan, mặc dù cùng 1 tính từ nhưng…
Danh từ có đuôi さ là 1 danh từ chung và khách quan. Vì vậy, nó có thể đo đếm được bằng tool.
Danh từ có đuôi みlà 1 danh từ chỉ có trong cảm thức của người nếm trải, hay nó là 1 “vị nếm trải, thọ nhận của bản thân”. Vì vậy chả thể đo đếm được bằng tool.
(Các cụ vẫn hay bảo “Mấy ai lấy thước mà đo long người đó thôi”)

Ví dụ, cùng một tính từ là ấm = 温かい(あたたかい)
Nhưng danh từ đuôi さ = 温かさ(あたたかさ), nghĩa là “sự ấm áp”. Sự ấm của さ có thể đo bằng nhiệt kế. Chẳng hạn :

Leave a Comment