2 em ấy よう và そう có gặp nhau ở cùng ý tưởng là khi phán ra “1 nhận xét”.
Những nơi các thiên tài gặp nhau, chúng ta sẽ bị ăn hành.
Tập 1. Phân biệt xô nhận xét (そう)và zô nhận xét (よう)khi liên thủ với tính từ
Một cách tổng quan, “xô nhận xét” từ tiếng Việt tương đương là “Trông có vẻ A”
Còn chiêu よう nhận xét, từ tiếng Việt tương đương là “Hình như là A”
Điểm khác biệt chủ yếu của 2 nhận xét trên là ở
Nguồn thông tin cho việc bắn ra 1 nhận xét đến từ đâu !
Khi ta đứng nhìn ngắm miếng thịt say đắm, thông tin đến từ nguồn mắt bảo với ta rằng. 古そうです。
Sau khi nhìn miếng thịt xong, xơi tái nó, tức thông tin đã có đến từ cả nguồn nếm. =古いようです。
Danh mục: Phân biệt ngữ pháp
Tiếng Việt của mình chỉ có 1 từ “Mở”.
Nhưng lái xe qua tiếng Nhật thì lại có đến 4 từ “mở” , là あける・あく・ひらく・ひらける.
trong tiếng Nhật thì hai trường hợp trên là hai từ “Mở” khác biệt !
Mở cửa =ドアをあける。
Mở lòng =心をあける
trong tiếng Nhật, thì 2 trường hợp trên là dùng 2 từ “Mở” khác nhau:
Mở cửa =ドアをあける
Cửa mở =ドアがあく
Có 2 câu hỏi cung ta có thể dùng mà qua đó có thể truy tìm được “thủ phạm”, và xác định đươc phải dùng từ “Mở” nào (trong あける・あく・ひらく・ひらける)
Nếu danh từ “con nít” là để định danh 1 đứa bé
Thì “con nít” っぽい = Rất là “con nít”
đã biến DT “con nít” thành 1 tính từ với đủ tính chất của 1 đứa bé (như ngây thơ, dễ thương, có phần mít ướt, vv)
Với らしい (trông 男らしい = Rất chuẩn đàn ông) thì điều tiên quyết là đối tượng ta mô tả phải là một người đàn ông
男らしい男がほしい。
(1) ĐT thể tiếp diễn liên thủ vớiところnhằm biểu đạt trạng thái “(Tôi) đang ~”.
(2) Dùng A ところを B/ A ところに để làm gì?
Dùng A ところを B để biểu thị ý “Tôi bị bắt gặp tại trận khi đang A”.
Dùng A ところにB để biểu đạt ý “Tại thời điểm A thì B xảy ra”
[Tôi đang tắm] ところを, B
Với sự xuất hiện của を biến “tôi” trong trạng thái “đang tắm” thành 1 đối tượng bị hành động B tác động.
Tôi-lúc đang lâm bồn (tắm) bị cô ấy nhìn thấy @__@.
お風呂に入っているところを彼女に見られた。
Làm sao để truyền thông tin (gọi thân mật là “buôn chuyện ^^) từ hành lang này đến hành lang khác?Trong tiếng Việt, cách để tám 1 câu chuyện từ hành lang A sang hành lang B là thủ pháp “Tôi nghe rằng ~” hay “Bà đó nói rằng ~”.
Trong tiếng Việt, thủ pháp của truyền đạt thông tin là nằm ở “rằng” (trong “nghe rằng, nói rằng).
Trong tiếng Nhật, thủ pháp “rằng” đó là thuộc về trợ từ ~と (lịch sự) hoặc ~って (thân mật).
“Nghe rằng ~”, thể lịch sự sẽ là ~ と聞きました。
Và “nghe rằng ~” thể thân mật sẽ là ~って聞いた。




