Dụng ý và công năng chung của なんて( và なんか), bôi đậm danh từ trước nó, tạo bệ phóng ra cảm xúc với danh từ ấy.
Cái khác nhau giữa chung là loại hình cảm xúc có thể phóng ra.
Cảm xúc có hai loại, tích cực và tiêu cực. Với loại cảm xúc như ví dụ trên khinh rẻ, coi nhẹ là cảm xúc tiêu cực (-). Và một loại cảm xúc còn lại, là tích cực.
なんて có thể sử dụng cho cả cảm xúc tích cực lẫn cảm xúc tiêu cực.
Trong khi đó なんか chỉ sử dụng cho cảm xúc tiêu cực, cụ thể là khinh rẻ coi nhẹ.
Danh mục: Phân biệt ngữ pháp
Một cách tổng quan, mặc dù cùng 1 tính từ nhưng…
Danh từ có đuôi さ là 1 danh từ chung và khách quan. Vì vậy, nó có thể đo đếm được bằng tool.
Danh từ có đuôi みlà 1 danh từ chỉ có trong cảm thức của người nếm trải, hay nó là 1 “vị nếm trải, thọ nhận của bản thân”. Vì vậy chả thể đo đếm được bằng tool.
(Các cụ vẫn hay bảo “Mấy ai lấy thước mà đo long người đó thôi”)
Ví dụ, cùng một tính từ là ấm = 温かい(あたたかい)
Nhưng danh từ đuôi さ = 温かさ(あたたかさ), nghĩa là “sự ấm áp”. Sự ấm của さ có thể đo bằng nhiệt kế. Chẳng hạn :
JLPT Ngữ Pháp Chân Kinh Tác giả Diep Anh Dao Phân biệt A ようと思っている/A つもり và A 予定 trong cùng ý nghĩa về cái…
Leave a Commentたり、し、とか đều đưoc dùng để liệt kê sự vật, sự việc.
(1) Xét về ý nghĩa đặc thù, thì dù たり、し、とか đều là liệt kê nhưng 3 chiêu ngữ pháp trên khác nhau ở chỗ:
Liệt kê…… vì mục đích gì?
Nếu liệt kê vì mục đích giải thích lí do cho một nhận định của mình, đó là し.
Nếu liệt kê vì mục đích trả lời cho câu hỏi “Làm gì thế?”, nhấn mạnh vào các hành động, ấy là たり.
Nếu liệt kê vì mục đích trả lời cho câu hỏi “Cái gì thế”, nhấn mạnh vào danh từ, danh động từ, ấy là とか.
Leave a CommentMột cách tổng quát thì trong 4 chiêu này, が・がいい góp phần làm nặng vấn đề, còn でいいvà とか sẽ giúp ta làm nhẹ vấn đề và người nghe cũng thấy vấn đề nhẹ tựa lông hồng.
Thế nào là “làm nặng vấn đề” và thế nào là “làm nhẹ vấn đề”?
Ví dụ, trong trường hợp ta đã qua tuổi băm mà vẫn chưa chồng, các cụ thân sinh hễ gặp ta dù chỉ một giây phút thôi, cũng sẽ :
“Này, lại bảo này. Đã có ….BẠN TRAI chưa?” và mặt mày nghiêm trọng.




